Thứ Bảy, ngày 24 tháng 9 năm 2016

17_TRUYỀN THỐNG GIẢ HÌNH (Phúc Âm Thánh Marco)

17_ TRUYỀN THỐNG GIẢ HÌNH (MC.7, 1-12)

Luật cũ vào bàn phải rửa tay
Chăm chăm Biệt phái giữ điều này
Xăm soi đầy tớ Người hành trái
Hạch hỏi môn đồ Chúa sống sai
Kìa miệng các ngươi hằng kính mến
Mà lòng chư vị thật trơ phai
Điều răn thượng giới  thì coi nhẹ
Luật lệ  phàm nhân bảo thủ hoài.
THINH KHÔNG

BÀI HỌA:

17_ THÀNH KIẾN SAI LẦM

Thơm lòng hơn rửa sạch bàn tay
Câu nệ bo bo giữ thói này
Bới móc môn đồ theo luật trái
Xì xèo đệ tử thực hành sai
Làn da thể xác tùy cho sạch
Khối óc tâm hồn chớ để phai
Hãy giữ điều răn quan trọng nhất
Đừng nên tiểu tiết nhỏ nhen hoài

Bùi Nghiệp

Thứ Năm, ngày 15 tháng 9 năm 2016

KHẤN MẸ SẦU BI



Ngắm khuôn mặt Mẹ trĩu sầu bi
Buồn dạ nhân gian quá lợm lì
Thập tự Con treo ,tàn nhẫn quá
Máu đào Chúa đổ, đớn đau chi
Mong tâm nhân thế chăm chăm sửa
Ước tội gian trần bớt bớt đi
Đêm vắng niệm suy xin khẩn Mẹ
Giúp con xa lánh thói mê ghì
           CÙ MÈ

       

Chủ Nhật, ngày 11 tháng 9 năm 2016

16_HÓA BÁNH RA NHIỀU (Phúc Âm Thánh Marco)

16_ HÓA BÁNH RA NHIỀU (MC.6, 34-44)

Chúa dạy đám đông đã quá chiều
Thấy dân cũng đói bụng reo kêu
Hai con cá đó nào chia khắp
Năm ổ bánh này hãy phát theo
Kẻ kẻ bụng no , vui khắp nhóm
Người người dạ thỏa,  thuận muôn điều
Mẩu dư thu lại mười hai thúng
Kỳ tích Ngài làm tỏ dạ yêu.
THINH KHÔNG

BÀI HỌA:

16_ PHÉP LẠ NUÔI  DÂN

Mải mê thuyết giáo đã về chiều
Dân đói bơ phờ bụng réo kêu
Cá nhỏ hai con này phát tiếp
Bánh xoàng năm tấm cứ chia theo
Ngỡ ngàng môn đệ bừng trăm sự
Kinh ngạc chư dân thốt vạn điều
Phép lạ tràn trề ăn chẳng hết
Quyền năng chứng tỏ Chúa thương yêu.

Bùi Nghiệp

Thứ Bảy, ngày 27 tháng 8 năm 2016

15_ VỀ THĂM NAZARETH (Phúc Âm Marco)

15_ VỀ THĂM NAZARET (MC.6, 1-6)

Một ngày đáo gót lại quê hương
Đức Chúa truyền rao giữa hội đường
Hàng xóm ngỡ ngàng: sao dị lạ
Đồng hương  kinh ngạc: thật vô thường
Anh em Người đó, làng rành tỏ
Cha mẹ ông đây, xóm tận tường
Họ cứng lòng tin không nhận lãnh
Ngài liền rời xứ dạy tha phương.
THINH KHÔNG

BÀI HỌA:

15_ QUÊ NHÀ BẠC ĐÃI

Cất bước nay về xứ cố hương
Lời thiêng Chúa giảng chốn linh đường
Ông này chính xác dòng dân dã
Người ấy đương nhiên tộc họ thường
Thành kiến sai lầm tai chẳng mở
U mê trái khoáy mắt đâu tường
Ai nào danh giá nơi quê cũ
Đành trẩy lên đàng đến viễn phương

Bùi Nghiệp

Thứ Năm, ngày 18 tháng 8 năm 2016

CHA F.X. TRƯƠNG BỬU DIỆP - PHÚ

CHA PHAN-XI-CÔ TRƯƠNG BỬU DIỆP  PHÚ

Thánh hiệu Phan-sinh;
Danh xưng Bửu Diệp.
Linh mục can trường;
Chủ chăn quán triệt!

Sách ghi:
Đất  An Giang- Cồn Phước , năm Bính Thân (1896 ÂL), chào đời cam khổ khởi sinh;
Vùng Tắc Sậy - Bạc Liêu, niên Bính Tuất, tử đạo đau thương tuẫn tiết.
Bốn chín mùa tín nghĩa đuốc sáng kiên trung;
Hăm hai kỷ tông đồ đăng hành mải miết.

Lúc  mười hai thơ ấu, tuổi thiếu nhi vào chủng viện xứ An Giang;
Khi hai bảy trưởng thành, đời linh mục ruổi dong miền Nam Việt.
Nhận  giáo sư chủng viện, đêm ngày ươm cấy tu sinh;
Lo quản sở giáo dân, năm tháng rắc gieo thông điệp.

Đất Tắc sậy chân trần thẳng bước, từ Cam Bô- Bà Đốc- Khúc Tréo… đã từng;
Miệt Giá rai thuyền gỗ xuôi chèo,  đến  An Hải- Đầu Sấu- Chủ Chi…  đều biết.
Tin Mừng gió quyện chốn long đàm;
Lời Chúa mưa tuôn vùng hổ huyệt.

Dù chiến tranh loạn lạc, cuốc nông phu luôn vun xới cần cù;
Mặc xã hội nhiễu nhương, thuyền ngư phủ cứ bủa giăng mài miệt.
Sống trung trinh theo ý nguyện  đoan thề;
Chết tín thác với lời nguyền cả quyết.

Chủ chăn dám đương đầu;
Mục tử liều đổ huyết.
Vỗ về chăm sóc thương yêu;
An ủi trông nom chí thiết.

Ngày ấy:
Lũ hung đồ bố ráp bủa vây;
Quân độc hiểm tập trung tiêu diệt.
Kẻ tín thành áp đảo không còn;
Người mộ đạo khu trừ tận triệt.

Cha hiên ngang:  tất cả vô can;
Ngài dõng dạc: duy đây quy hiệp.
Xưng danh can đảm, bảy mươi vị hiện tại đâu hề;
Tuyên bố hào hùng, một mình tôi chủ trương sự việc.
Bày nhào tới trói liền;
Lũ ập vô dẫn biệt.

Đêm hôm đó:
Giáo hữu chiêm bao, bị  tử nạn tàn sinh;
Hồn thiêng báo mộng, đã hành hình trảm quyết!
Xác chìm loã thễ đau thương;
Thân chúi trần truồng thống thiết.

Đó đôi tay vững chắp thản nhiên;
Kìa khuôn mặt nghiêm hình lẫm liệt.
Giáo dân âm thầm khâm liệm, chốn thánh đường di xác đào mồ;
Chức sắc lặng lẽ quách quan, nơi Khúc Tréo chôn thây lấp huyệt.

Thở than khóc vị can trường;
Nấc nghẹn thương người dũng  liệt.
Hạt giống đạp lấp vùi;
Mầm tươi bùng nở biếc.
….
Năm kỷ dậu chốn nhà Tắc sậy (1969) , cốt chủ chăn cải táng đơn sơ;
Đến canh dần nơi đất Giá rai (2010), mộ linh mục trùng tu trác tuyệt.
Tận xa xôi vạn lý, người hành hương khấn nguyện tâm thành;
Nơi cách trở trăm đường, kẻ thiện tín xin ơn đặc biệt.

Hôm nay:
Bất kể dị đồng;
Không trừ khác biệt.
Ai xin ơn đều vui sướng tận cùng;
Kẻ khẩn khoản cứ hân hoan khôn xiết.
……
Đơn tuyên dương yêu cầu tấp nập, đợi Toà thánh châu phê;
Án Chân phước đạo đạt chất chồng, chờ Giáo Hoàng xét duyệt.
Mong đến ngày rạng rỡ huy hoàng;
Đợi đến độ vinh quang diễm tuyệt.

Tô với đất trời;
Soi hoà nhật nguyệt.
Kính trọng vô cùng;
Cha Trương Bửu Diệp!


Bùi Nghiệp

Thứ Sáu, ngày 12 tháng 8 năm 2016

THÁNH PHAOLÔ HẠNH PHÚ

THÁNH PHAOLÔ HẠNH

Thánh hiệu Phao-lô;
Danh xưng Văn Hạnh.
Du đãng một vùng;
Giang hồ nhất khoảnh.

Khi xưa:
Từ Đinh Hợi (1827), đất Tân Triều –Đồng Nai hiện diện tầm thường;
Đến Kỷ Mùi (1859), miệt Chí Hoà- Chợ Quán vong thân kiêu hãnh.
Thuở hàn vi tâm địa tinh ma;
Thời niên tráng tính tình ranh mãnh.

Buông trôi xác thịt mê man;
Trói chặt tâm hồn đặc quánh.
 Gan to bướng bỉnh, tay chúa trùm nổi tiếng đầu đàn;
Khí phách ngang tàng, máu anh chị xưng danh thủ lãnh.

Đủ mưu ma gài bẫy lọc lừa
Đầy chước quỷ dở trò khoé cạnh
Nghiệp lái buôn nhè bóp cổ xiết hầu;
Nghề thương mại thói đè đầu bẻ cánh.

Thế nhưng:
Ý Chúa bày: đố kẻ bì so;
Lòng Trời đặt: nào ai ví sánh.
Hạt giống ngẫu nhiên giây phút nảy mầm;
Chồi non thong thả tháng ngày trổ nhánh.

Lời Chúa đây hằng cắm rễ dẫu mơ màng;
Tin mừng đó cứ ăn sâu dù mỏng mảnh.
Duy vài khắc, máu hào hùng can thiệp lũ cậy đông;
Đã một lần, tay nghĩa hiệp đỡ bênh người cô quạnh.

Trả lại sự công bằng;
Đền bù điều ngay ngắn.
Đến lúc hướng thiện hồi đầu;
Tới kỳ cải tà quy chánh.

Việc Trời làm khó thấu căn cơ;
Điều Chúa định  nào suy búp  nhánh.
Cả đời quẫn trí, xưa chai lỳ thể xác u mê;
Một buổi hồi tâm, nay biến đổi linh hồn thức tỉnh.

Đứa thù nhân:
Cầm dao nấp bụi, trả thù lập kế báo lũ đương quyền;
Ném đá giấu tay, rửa hận âm mưu tâu quan chấp chánh.
“Tên này thân Pháp gan lỳ;
Đứa đó Gia-tô bướng ngạnh”.

Lính sai nha lập tức còng tay;
Quân phủ vệ ào xô thúc cánh.
Nơi tra toà án, vẫn chối từ cấu kết Lang sa;
Chốn khảo pháp đình, lại xác định luôn theo đạo Thánh.

Cứ ép uổng, lấy bạc tiền muốn dụ chối đức tin;
Mong buông xuôi, dùng phú quý hòng khước từ linh ảnh .
Chẳng sợ gông xiềng gỗ vụt, gậy hèo;
Không e kềm kẹp, sắt nung, roi đánh.

Than ôi!
Công văn  vua Tự Đức châu phê;
Xử trảm kẻ tù nhân án lãnh.

Thân kiên dũng, đất Chí hoà đao phủ phân thây;
Xác trung thành, mồ Chợ quán anh hùng dứt mệnh.
Năm kỷ dậu (1909) Đức Thánh cha từng phong tước chân nhân;
Đến mậu thin (1988) Ngài Giáo chủ lại nâng hàm hiển thánh.

Gương anh dũng ngời ngời;
Thước hùng tâm vành vạch.
Hậu thế kính mừng;
Thánh Phao-lô Hạnh.


Bùi Nghiệp

Thứ Bảy, ngày 30 tháng 7 năm 2016

14_ LÒNG TIN ĐÃ CỨU CON (Phúc Âm Thánh Marco)

14_ LÒNG TIN ĐÃ CỨU CON (MC.5, 25-34)

Có bà băng huyết đã lâu năm
Len lỏi ra công để tới gần
Tin tưởng tay  rờ lòng khát vọng
Khẩn cầu ơn độ bệnh tiêu tan
Chúa rằng: Ai muốn xin chi thế
Bà đáp: Con mong được phúc lành
Căn bệnh nan y liền dứt hẳn
Lòng tin cứu chữa mọi nguy nàn.
THINH KHÔNG

BÀI HỌA:

14_ ĐỨC TIN MẠNH MẼ

 Băng huyết bệnh tình đã mấy năm
Bà kia thấy Chúa vội chen gần
Mân mê góc áo cầu đau hết
Thầm thĩ trong lòng khấn bệnh tan
Lập tức kinh kỳ thông thoáng khỏi
Bất ngờ huyết mạch dứt yên lành
Đức tin mạnh mẽ điều tiên quyết
Đã cứu người đây thoát ách nàn

Bùi Nghiệp

Thứ Ba, ngày 12 tháng 7 năm 2016

THÁNH I NÊ ĐÊ (LÊ THỊ THÀNH)

(Kính ngày 12-07(

I Nê Thánh hiệu;
Danh Lê thị Thành.
Giáo hữu can tràng;
Nữ nhân oai lẫm.

Thư truyền :
Cảnh Hưng tứ thập nhị niên, nơi quê quán  Bái Điền , ấu nữ chào đời trong yêu thương yên ấm;(*)
Thiệu Trị tiên khởi nguyên kỷ, chốn lao tù Nam Định,  Chứng nhân  tử đạo    bởi tra khảo nhục hình .(*)
Tự ấu thơ với đích mẫu , quê ngoại  Ninh Bình;
Lên  đôi tám cùng tòng phu, đồng hương  Phúc Nhạc.
Dưỡng nuôi con , quản chi lao nhọc;
Dạy dỗ trẻ , hết mực vẹn toàn.
Chỉ bày con  học đạo lý  sống ngoan;
Thúc giục cháu năng đường ngay  rèn đức.
Răn con cái thuận hòa hạnh phúc;
Khuyên rể dâu hiếu đễ  yêu thương.
Lòng bác ái , lại  tỏ độ vô  lường;
Tâm kính tin , hằng khát khao khôn kể.
Đã nhiều phen giúp  Cha  Cố ẩn tàng, gian nguy chẳng nệ ;
Từng lắm bận che Thừa sai lẩn tránh , vạ họa  không   sờn .

Phục sinh năm Tân Sửu(1841(:
Một kẻ giáo gian lén báo tâng công;
Bốn Cha  giảng đạo đang hành sứ vụ.
Quan Tổng đốc  thân chinh  kéo đàn quân dữ;
Lính sai nha vây bủa ngăn ngả làng thôn.
Cố đạo bị truy đuổi dồn;
Tín đồ cố che chắn dấu .
Linh mục Lý ẩn vùi mương giậu;
Giáo dân Đê  phủ lấp rạ rơm.
Nguy nàn thay, lính dịch nhanh chân;
Tai họa lắm, Cha con sa lưới.
Nhà cửa bà truy trên lùng dưới;
Tay chân lính  cướp thóc đoạt tiền.
Bị điệu sân đình mặt vẫn điềm nhiên;
Chịu lôi dọc ngõ chân luôn vững cất.
Xích khóa tay , lính  điều ngục thất ;
Gông cùm cổ , quan giải tù nhân.
Dài lộ ải , toàn đi đảo bước lăn;
Suốt canh thâu, những nhào xiêu ngã ngửa.
Trước án quan  , gạt hết  lời khuyên bỏ Chúa;
Trong khổ ngục  , xưng vang  tiếng thệ tin Ngài.
Đòn vọt hung tàn tới tấp ra oai;
Củi cây ác độc dập dồn tra tấn.
Quan thượng lại đòi tới khảo lui , dụ quá khóa năm lần bảy bận;
Nữ nhân vẫn đáp ngay xưng rõ  , quyết kiên trung nhất dạ một lòng.
Trọn kiếp tín trung;
Suốt đời mộ kính.
Quan lệnh sai , cột y phục  phạm nhân thật kín;
Rắn truyền thả , luồn châu thân  nữ lão ghê hung.
Chẳng chút hoảng run;
Mà đầy an vững.
Loài độc thú cũng dè kiêng  , không hề cắn vụng;
Người can trường hằng trông cậy , vẫn mực đứng ngay .
Quan tức giận thay;
Lính kinh hãi lắm.
Khổ hình lại như mưa đẫm;
Thân thể  hồ tựa  bã băm.
Máu me bê bết áo quần;
Lời nguyện lỉ liên môi miệng.
Xin Chúa Thiên ban thêm sức mạnh;
Cầu Đức Mẹ  hộ giúp  lòng gan.
Con gáig khóc thương sầu não vào thăm ;
Mẫu thân  vui  vẻ lạc quan an vấn.
Áo mẹ nở đơm hoa hồng phúc đấy;
Lệ con   rơi tạo giếng lụy mà chi.
Trăm lần đòn vọt , sống lại chết đi
Mấy lượt cùm gông , tra suy khảo  kiệt.
Lại thêm bệnh kiết;
Càng khiến sức tàn  .
Vị Nữ liệt nguyện tiếng phó dâng;
Người Tôi trung  trút hơi giã thế.
Thân xác hóa nên của lễ;
Linh hồn  thăng tiến Cõi Thiêng.
Gieo đau khổ, vị giáo dân trung tín  hưởng phúc vô biên;
Gặt vinh quang, hàng phụ nữ kiên cường  lãnh ơn cao trọng.
Đấng Chứng nhân anh dũng;
Vị Tử Đạo kiêu hùng.

Trên ngai tòa Phê Rô:
Đức Pi Ô Thập, niên Kỷ Dậu  (1909) sắc phong Chân Phước huy hoàng;
Cha Giang Bảo Nhị, năm Mậu Thìn  (1988) tôn kính Thánh  Nhân vinh hiển.

Ngưỡng vọng:
Đoàn con kính nguyện;
Thánh Nữ cầu bầu.
Cho hậu thế hằng vững  tin sâu;
Học tiền nhân sống theo Thánh Ý.
                CÙ MÈ
                                  07-01-2013

(*) Thánh I Nê Đê (Lê thị Thành) sinh năm 1781 (Tân Sửu) thời  vua Lê Hiển Tông năm Cảnh Hưng thứ 42 tại làng Bái Điền, huyện Yên Định,tỉnh Thanh Hóa.Thuở nhỏ đã theo mẫu thân về sinh sống tại quê  ngoại Xư Phúc Nhạc, Phát Diệm (Ninh Bình)
(**) Thánh nữ tử đạo (rũ tù) tại Nam Định ngày  12-07-1841 (Tân sửu) ,năm Thiệu Trị nguyên niên
THÁNH I NÊ ĐÊ (LÊ THỊ THÀNH)
(Kính ngày 12-07(

I Nê Thánh hiệu;
Danh Lê thị Thành.
Giáo hữu can tràng;
Nữ nhân oai lẫm.

Thư truyền :
Cảnh Hưng tứ thập nhị niên, nơi quê quán  Bái Điền , ấu nữ chào đời trong yêu thương yên ấm;(*)
Thiệu Trị tiên khởi nguyên kỷ, chốn lao tù Nam Định,  Chứng nhân  tử đạo    bởi tra khảo nhục hình .(*)
Tự ấu thơ với đích mẫu , quê ngoại  Ninh Bình;
Lên  đôi tám cùng tòng phu, đồng hương  Phúc Nhạc.
Dưỡng nuôi con , quản chi lao nhọc;
Dạy dỗ trẻ , hết mực vẹn toàn.
Chỉ bày con  học đạo lý  sống ngoan;
Thúc giục cháu năng đường ngay  rèn đức.
Răn con cái thuận hòa hạnh phúc;
Khuyên rể dâu hiếu đễ  yêu thương.
Lòng bác ái , lại  tỏ độ vô  lường;
Tâm kính tin , hằng khát khao khôn kể.
Đã nhiều phen giúp  Cha  Cố ẩn tàng, gian nguy chẳng nệ ;
Từng lắm bận che Thừa sai lẩn tránh , vạ họa  không   sờn .

Phục sinh năm Tân Sửu(1841(:
Một kẻ giáo gian lén báo tâng công;
Bốn Cha  giảng đạo đang hành sứ vụ.
Quan Tổng đốc  thân chinh  kéo đàn quân dữ;
Lính sai nha vây bủa ngăn ngả làng thôn.
Cố đạo bị truy đuổi dồn;
Tín đồ cố che chắn dấu .
Linh mục Lý ẩn vùi mương giậu;
Giáo dân Đê  phủ lấp rạ rơm.
Nguy nàn thay, lính dịch nhanh chân;
Tai họa lắm, Cha con sa lưới.
Nhà cửa bà truy trên lùng dưới;
Tay chân lính  cướp thóc đoạt tiền.
Bị điệu sân đình mặt vẫn điềm nhiên;
Chịu lôi dọc ngõ chân luôn vững cất.
Xích khóa tay , lính  điều ngục thất ;
Gông cùm cổ , quan giải tù nhân.
Dài lộ ải , toàn đi đảo bước lăn;
Suốt canh thâu, những nhào xiêu ngã ngửa.
Trước án quan  , gạt hết  lời khuyên bỏ Chúa;
Trong khổ ngục  , xưng vang  tiếng thệ tin Ngài.
Đòn vọt hung tàn tới tấp ra oai;
Củi cây ác độc dập dồn tra tấn.
Quan thượng lại đòi tới khảo lui , dụ quá khóa năm lần bảy bận;
Nữ nhân vẫn đáp ngay xưng rõ  , quyết kiên trung nhất dạ một lòng.
Trọn kiếp tín trung;
Suốt đời mộ kính.
Quan lệnh sai , cột y phục  phạm nhân thật kín;
Rắn truyền thả , luồn châu thân  nữ lão ghê hung.
Chẳng chút hoảng run;
Mà đầy an vững.
Loài độc thú cũng dè kiêng  , không hề cắn vụng;
Người can trường hằng trông cậy , vẫn mực đứng ngay .
Quan tức giận thay;
Lính kinh hãi lắm.
Khổ hình lại như mưa đẫm;
Thân thể  hồ tựa  bã băm.
Máu me bê bết áo quần;
Lời nguyện lỉ liên môi miệng.
Xin Chúa Thiên ban thêm sức mạnh;
Cầu Đức Mẹ  hộ giúp  lòng gan.
Con gáig khóc thương sầu não vào thăm ;
Mẫu thân  vui  vẻ lạc quan an vấn.
Áo mẹ nở đơm hoa hồng phúc đấy;
Lệ con   rơi tạo giếng lụy mà chi.
Trăm lần đòn vọt , sống lại chết đi
Mấy lượt cùm gông , tra suy khảo  kiệt.
Lại thêm bệnh kiết;
Càng khiến sức tàn  .
Vị Nữ liệt nguyện tiếng phó dâng;
Người Tôi trung  trút hơi giã thế.
Thân xác hóa nên của lễ;
Linh hồn  thăng tiến Cõi Thiêng.
Gieo đau khổ, vị giáo dân trung tín  hưởng phúc vô biên;
Gặt vinh quang, hàng phụ nữ kiên cường  lãnh ơn cao trọng.
Đấng Chứng nhân anh dũng;
Vị Tử Đạo kiêu hùng.

Trên ngai tòa Phê Rô:
Đức Pi Ô Thập, niên Kỷ Dậu  (1909) sắc phong Chân Phước huy hoàng;
Cha Giang Bảo Nhị, năm Mậu Thìn  (1988) tôn kính Thánh  Nhân vinh hiển.

Ngưỡng vọng:
Đoàn con kính nguyện;
Thánh Nữ cầu bầu.
Cho hậu thế hằng vững  tin sâu;
Học tiền nhân sống theo Thánh Ý.
                CÙ MÈ
                                  07-01-2013

(*) Thánh I Nê Đê (Lê thị Thành) sinh năm 1781 (Tân Sửu) thời  vua Lê Hiển Tông năm Cảnh Hưng thứ 42 tại làng Bái Điền, huyện Yên Định,tỉnh Thanh Hóa.Thuở nhỏ đã theo mẫu thân về sinh sống tại quê  ngoại Xư Phúc Nhạc, Phát Diệm (Ninh Bình)
(**) Thánh nữ tử đạo (rũ tù) tại Nam Định ngày  12-07-1841 (Tân sửu) ,năm Thiệu Trị nguyên niên

Chủ Nhật, ngày 10 tháng 7 năm 2016

13_ DỤ NGÔN HẠT CẢI (Phúc Âm Thánh Marco)



13_ DỤ NGÔN HẠT CẢI (MC.4, 30-32)

Như hạt cải li ti
Vào lòng đất thối đi
Mọc lên cây rậm rạp
Vươn trổ bụi xanh rì
Chim choc quần cư đó
Cây cành chắc vững chi
Nước Trời y tựa thế
Ai hỡi ngẫm cùng suy
THINH KHÔNG

BÀI HỌA:

13_ HẠT NHỎ BÉ 

 Hạt này nhỏ tí ti
Đặt xuống đất vùi đi
Trước trổ cành thưa thớt
Sau bung tán rậm rì
Chim về nương vững đấy
Thú đến ẩn lo chi
Nước Chúa so như vậy
Này người cứ gẫm suy
Bùi Nghiệp

Thứ Tư, ngày 29 tháng 6 năm 2016

GIA TÀI CỦA MẸ LÀ NƯỚC VIỆT BUỒN



Thứ năm ngày 23 tháng 6 là thứ năm Tuần 12 mùa Thường Niên, bài đọc 1, Hội Thánh cho chúng ta nghe đoạn Sách Thánh trên. Đây là câu chuyện buồn của dân tộc Israel. Đọc lịch sử Israel chúng ta thấy lịch sử đó được nối tiếp bằng những biến động xô đẩy một dân tộc mang ơn gọi là dân riêng của Thiên Chúa, nhưng sự yêu thương của Thiên Chúa dành cho họ từng lúc được thanh luyện vì sự bất xứng và phản bội của họ, sự trung thành với Thiên Chúa từng lúc được uốn nắn sau những bất trung rồi đi kèm với sự thanh luyện. Cuối cùng thì Thiên Chúa vẫn không bỏ lời hứa, cuối cùng thì sau bao nhiêu biến cố lao đao trong lịch sử, những cuộc lưu đày liên tiếp xảy ra Thiên Chúa vẫn xuất hiện để ra tay cứu vớt họ.
Trên bàn cờ chính trị và kinh tế của thế giới hiện nay, người ta truyền miệng nhau lời đồn thổi về những huyền thoại mang dòng máu Do Thái, những nhân vật xuất chúng gây những tác động lớn làm xoay chuyển tình thế, lèo lái sự sống của cả nhân loại… Sự thông minh, nhanh nhẹn, chí quật cường và tinh thần quốc gia là những lợi thế rất lớn mà những người mang dòng máu Do Thái có được, nhưng có phải vì thế mà họ là nạn nhân của các cuộc xâm lăng, tàn sát diệt chủng? Có phải cứ có một lợi thế thiên bẩm nào đó thì dân tộc ấy sẽ trở nên nạn nhân của các tham vọng và sự ác độc của dân tộc khác không? Hơn 6 triệu người Do Thái lặng lẽ xếp hàng vào phòng hơi ngạt của Đức Quốc Xã trong đại chiến thế giới vừa qua? Lịch sử hàng ngàn năm bị nô lệ của dân tộc Việt có phải bởi nguyên nhân vì lợi thế biển Đông ? Những sự gằm ghè hung hăng mong thôn tính chỉ vì chúng ta có lợi thế rừng vàng biển bạc?
Những tuần trước, Sách Thánh đã cho ta thấy sự suy đồi dẫn đến diệt vong của vương quốc phía Bắc (1V 17). Năm 722 trước công nguyên, Sargon, vua của Assyri đã bao vậy Samari (thủ đô của vương quốc phía Bắc) rồi tiêu diệt hoàn toàn vương quốc này, chính ông ta đưa người ngoại bang vào cư ngụ trên phần đất của dân tộc Israel ( 1V 17, 24 ), gây ra một giống dân  tạp chủng, là nguồn gốc chia rẽ phân biệt kéo dài trong lịch sử Do Thái. Kính Thánh Tân Ước không thiếu những câu chuyện người phương Nam coi thường và kỳ thị người phương Bắc.
Đoạn Kinh Thánh hôm nay cho thấy đến lượt vương quốc phía Nam, vương quốc Giuđa cũng bị sụp đổ. Nabukôđônôsor, vua Babel (Babylon), người ghi dấu chấm hết cho vương quốc phía Nam này, người nhúng tay vào tội ác phá phách tan tành các nơi thánh, cướp đi những vật dụng thờ phượng, khinh bỉ tín ngưỡng và xúc phạm thánh danh.
Nabukôđônôsor phát lưu đày các thành phần ưu tú nhất của vương quốc Giuđa, họ là những người trong hoàng tộc, những tướng lĩnh, những người đang có những tay nghề cao nhất được trọng dụng thời đó. Điều mắm muối là Sách Thánh ghi lại chi tiết, hạng cùng đinh thì không bị phát lưu đày (câu14). Hẳn khi bị đi lưu đày, những thành phần được xem là ưu tú này vẫn chưa hết ngỡ ngàng, chắc họ vẫn nghĩ rằng họ đã liên kết, đã thỏa hiệp, đã ngoan ngoãn vâng lời ngoại bang và chính họ đang nắm giữ các nguồn lợi kinh tế có lợi cho ngoại bang thì họ sẽ được trọng dụng. Không, một khi mất nước sẽ là mất tất cả, những kẻ thỏa hiệp với ngoại bang, với sự dữ, sự ác, trong con mắt của quyền lực ngoại bang họ chỉ là hạng người đáng khinh bỉ mà thôi, nghĩ mình sẽ được trọng dụng chỉ là ảo tưởng. Một khi mất nước, không một ai thoát chết, lưu đày hay không lưu đày vẫn chết dưới ách nô lệ, lên tiếng hay không lên tiếng cũng chết, làm chính trị hay không làm chính trị cũng chết.
Mấy ngay nay trên các trang mạng, hình ảnh các Đan Sĩ Đan Viện Thiên An Huế quỳ cầu nguyện trước cảnh người ta xông vào hạ Thánh Giá, đập tượng thánh được loan truyền đi khắp nơi, những tiếng kêu than, trách móc ai oán. 





Những hình ảnh Nữ Tu Dòng Thánh Phaolô Hà Nội thức trắng đêm phản đối việc xây dựng trên đất của Tu Viện chập chùng bên cạnh những hình ảnh ở Thiên An. Chúng ta chưa quên được hình ảnh các Nữ Tu Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm đứng giữa cơn mưa đọc kinh để bảo vệ tài sản của Nhà Dòng. Trước đó nhiều hình ảnh khác phản ánh nỗi quặn đau của những người có Đức Tin chứng kiến sự cướp bóc và xúc phạm những nơi thánh. Từ năm 1945 ngoài miền Bắc, rồi từ sau năm 1975 tại miền Nam.

Trở về từ vùng biển chết Vũng Áng, Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt đã trả lời phỏng vấn của trang Tin Mừng Cho Người Nghèo, ngài nói:
“Tôi thấy có ít nhất có bốn cái chết: cái chết của lương tâm, cái chết của luân lý, cái chết của lý trí, cái chết của chính trị.
Lương tâm là ơn Chúa ban cho người ta để người ta phân biệt được điều gì tốt điều gì xấu, khi làm điều tốt thì lương tâm thanh thản, an ủi còn khi làm điều xấu lương tâm cắn rứt. Thế thì khi lương tâm chết rồi nó không còn cắn rứt nữa. Cho nên khi làm điều xấu mà nó không còn cắn rứt nữa thì lương tâm đó chết rồi.
Luân lý là những chuẩn mực, quy luật để hành xử cho đúng đạo lý. Khi cư xử không còn theo đạo lý nữa, không còn biết điều xấu nữa thì luân lý đó chết rồi, nó không bị chi phối bởi những chuẩn mực đạo đức, không còn quy tắc đạo lý nữa.
Lý trí để giúp người ta biết phân định những giá trị cao thấp khác nhau như Đức Thánh Cha nói rằng: “thời gian lớn hơn không gian, toàn phần lớn hơn một phần”. Bây giờ người ta chọn một phần mà quên đi toàn phần thì cái đó là cái chết của lý trí không còn phân định được và chọn các giá trị thấp mà bỏ các giá trị cao.
Chính trị chính là nghệ thuật tổ chức sắp xếp để cho mọi người được hạnh phúc. Cho nên nó đã chết trong lòng con người chính là nguyên nhân làm cho biển chết, cá chết.” 
(Phỏng vấn Đức Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt của Tin Mừng cho Người Nghèo ngày 19.6.2016).


Gia tài của mẹ, một nước Việt buồn !
(Theo lời bài hát “Gia Tài của mẹ” của Trịnh Công Sơn)

Lm. VĨNH SANG, DCCT, 23.6.2016

Thứ Năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016

XIN ẨN NHỜ



Ôi Trái tim Cha, chốn ẩn nhờ
Mà con quên lãng giữa đời mơ
Nỗi buồn ai sẻ lòng nêm chặt
Gánh khổ thân gồng lệ nhỏ  khô
Bất lực ,thông tình Cha vẫn đỡ
Yếu hèn   ,biết lửa Chúa vô bờ
Ách Ta luôn nhẹ , lời êm ái
Theo học ,xin Người  soi bước cho.
.                    CÙ MÈ

Thứ Ba, ngày 14 tháng 6 năm 2016

12_ HẠT GIỐNG TỰ MỌC (Phúc Âm Thánh Marco)



12_ HẠT GIỐNG TỰ MỌC (MC.4, 26-29)

Nước Chúa giống như những hạt mầm
Gieo vào lòng đất mọc tươi xanh
Thây ai đêm ngủ cây vươn trỗi
Mặc  kẻ ngày chơi  lá phủ tràn
Đòng trổ đúng thì thơm ngậm sữa
Bông no trĩu hạt chín ươm vàng
Cuối mùa thợ gặt vung liềm cắt
Thu hoạch vào kho lẫm  trữ tàng.
THINH KHÔNG

BÀI HỌA:

12_ MẦM NON CHỖI DẬY

Nước Trời như hạt giống ươm mầm
Mọc rễ vươn mình trổ sắc xanh
Phát triển đêm ngày bung tỏa ngợp
Sinh sôi năm tháng vút lan tràn
Đâm chồi nảy lộc màu tươi biếc
Kết trái đơm hoa sắc rực vàng
Hiến tặng cho đời bao mỹ vị
Tồn lưu tích lũy ngập kho tàng
Bùi Nghiệp

Thứ Sáu, ngày 03 tháng 6 năm 2016

THÁNH PHAO LÔ VŨ VĂN ĐỔNG(PHÚ)

        (Kính ngày 03-06)

Thánh hiệu Phao Lô;
Danh Vũ Văn Đổng.
Giáo dân anh dũng;
Thủ bạ can tràng.
Ký truyền :
Nhâm Tuất kỷ Gia Long khởi nguyên , nơi quê quán Vực Đường , con trẻ  chào đời mang phận nhân gian;(*)
Trùng giáp niên Tự Đức thập ngũ , chốn pháp trường Hưng Yên, Chứng nhân tử đạo nhập hàng Chư Thánh.(**)
Người Tín hữu mẫu gương , kinh nguyện nhà thờ ngày ngày sốt sắng;
Bác Nông phu chân chất , cấy cầy  đồng ruộng buổi buổi chuyên chăm.
Ngay tâm ái phụ , dưỡng dục con cái đạo hạnh hiền ngoan;
Xứng dạ hiền phu,mến yêu bạn đời ân cần mẫu mực.
Chuyện nước chuyện làng,  toàn tâm  gắng sức;
Việc khu việc họ , Nhiệt huyết lo toan.
Quản  sổ thư  họ đạo chu toàn;
Giữ  tài sản đạo tràng  nghiêm cẩn.

Thuở Nguyễn Triều bách hại Đạo Trời hung hãn;
Thời Tự Đức truy lùng  dân Chúa dã man.
Quan quân lửa đuốc sáng choang  , hùng hùng hổ hổ , vây bủa xóm làng;
Lính  tráng giáo gươm tua tủa  , láo láo liên liên , truy lùng đạo hữu.
Đặt Thánh giá  chính đường ngay cửa;
Truyền giáo dân  quá bước dày chân.
Ông Thủ bạ mạnh lời  , Tuyên bố bất tuân;
Vị Lão niên vang tiếng , hùng xưng chẳng đạp.
Tức thì  thân già nặng xiềng gông , quan quân giải áp;
Ngay khắc xác ốm no đòn vọt , lính thú lôi đi .
Về phủ huyện Ân Thi;
Lên nhà lao Phố Hiến.
Quan ra sức tiền bạc dụ lời , ban thưởng cho về nhà nguyên vẹn;
Cụ kiên gan ngôn từ khẳng tiếng  , hy sinh , quyết giữ đạo suốt đời  .
Ông nằm lăn  , lạy dấu thánh Chúa Trời;
Lính đóng cũi , khênh người qua Thập giá.
Chốn lao tù , ngày đêm xiềng khóa;
Nơi  khổ ngục  , canh khắc cầu kinh.
Đòn vọt   tới tấp băm bổ  tận tình;
Máu đào  đầm đìa lổ loan thắm   đỏ.
Gần năm ròng thân khổ;
Bao tháng lẻ xác đầy .
Khuyến dụ mãi không lay;
Hăm he hoài vẫn rứa.

Quy chiếu lệnh Vua:
Sắt nung trên lửa;
Chữ thích hằn da.
Lũ quan quân gây ác sự  quỷ ma;
Người giáo hữu chịu khổ hình man rợ.
Phía má  này, nung mấy từ Làng quê bản sở;
Bên mặt nọ , thích hai chữ Tả đạo thị khinh.
Chẳng chịu lẽ , Lão nhân   tỏ chí  cưỡng hình;
Không đồng lòng  , Thủ bạ  tự tay xóa mộc.
Tức cùng căm , Quan lệnh truyền cấm cốc;
Kiệt lẫn đói , Cụ vẫn vững lòng son.
Lính thương tình lén giúp lưng cơm;
Người bác ái lại nhường anh bạn.
Bụng rỗng không,  nhiều ngày đâm quặn;
Áo tơi tả,  dăm mảnh nhai thay.
Quan  lệnh bắt lính  thích tự lai;
Người   xin để tù  xâm chữ giúp.
Chẳng xâm từ “TẢ NHÂN” bỉ nhục;
Lại thích dòng “CHÍNH ĐẠO” hiên ngang.
Khiến lính canh hết mực bàng hoàng;
Làm Quan thượng vô cùng tức giận.
Án tử tức thì phê chuẩn;
Tội hình ngay khắc duyệt xong.
Nghe tin báo , Người vui sướng cất nguyện trí tạ ơn;
Được ơn cao, cụ bình an liền dọn hồn đón khổ.

Đường chứng đức tin:
Chân đến pháp trường, vị Lão niên vang lời kinh dâng phó;
Mắt nhìn đao phủ , người Con Chúa  vững bước  tế hy sinh.
Một phút hướng Cõi Cao Xanh  ;
Ba lần kêu Tên Cực Thánh.
Lý hình vút lưỡi đao hành án;
Nhân chứng  lìa thủ cấp thăng thiên.
Nhận Nguyệt Quế từ  Đấng Chúa Chiên;
Truyền Đức Tin chođời hậu thế.
Người Tôi trung oai phong , kiên thệ;
Đấng Tử Đạo lẫm  liệt  , hùng anh.
Năm Tân Mão (1951), Cha Pi Ô tôn kính Bậc Chân Phước rạng danh;
Niên Mậu Thìn (1988), Đức Giang Bảo   vinh phong Đấng Thánh nhân vinh Hiển .
Hậu thế đoàn con khấn nguyện;
Tiền nhân Dũng Thánh hộ phù.
Giúp giáo hữu thoát bẫy ba thù;
Trợ chiên lành qua cơn thử thách.

                  CÙ MÈ 
                              03-01-2013

(*) Thánh Phao lô Đổng sinh năm 1802 (Nhâm Tuất), năm Gia Long thứ nhất.
Vực Đường là một họ đạo thuộc xứ Cao Xá,huyện Ân Thi, Hưng Yên vào thời đó .Đến năm 1915 thì là họ lẻ lớn nhất của xứ Đan Chàng (Vân), mãi đến năm 1944,Đức Giám Mục Thái Bình  Santos Ubierna Ninh đã nâng họ Vực Đường thành giáo xứ Lê Xá.

(**) Thánh Phao Lô Đổng tử đạo ngày 03-06-1862 (Nhâm Tuất, năm Tự Đức thứ 15(.
   Ngày 29-04-1951 được Đức Giáo Hoàng Pio XII tôn phong Chân Phước
   Ngày 19-06-1988 được Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II vinh phong Hiển Thánh.